Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

III. VỀ SỐ LƯỢNG NGƯỜI CÓ TÔN GIÁO

VẤN ĐỀ 03:

Chỉ những người ngu dốt mới tin có Thiên Chúa, còn những ai có kiến thức đều vô thần.
GIẢI ĐÁP:
A. TRÌNH BÀY:

1) Một số người nại vào khoa học để phủ nhận tôn giáo: Theo họ: “Tôn giáo bắt nguồn từ sự dốt nát của con người. Ngày xưa, vì thiếu hiểu biết, nên con người cảm thấy nhỏ bé tầm thường. Họ luôn cảm thấy sợ hãi trước những hiện tượng trong thiên nhiên như sấm chớp, bão táp, cháy rừng, động đất... và coi chúng như các thần minh quyền năng, mà muốn được yên thân, người ta phải thờ phượng, lễ bái, cúng kiến… Đó là nguồn gốc phát sinh ra tôn giáo thời sơ khai. Nhưng từ khi khoa học tiến bộ, khi trí óc con người được mở mang, thì những ý niệm về các vị thần minh nói trên cũng dần dần tan biến. Đến nay chỉ có những người ngu dốt mới tin Thiên Chúa, còn những ai có chút kiến thức đều vô thần”.

2) Chúng ta có thể đồng quan điểm phần nào với lập trường nói trên: khi nói về những tôn giáo tự nhiên đa thần, là những tôn giáo do trí khôn con người thời sơ khai tưởng tượng ra, lệ thuộc vào sự hiểu biết nông cạn của con người lúc đó. Dần dần, khi khoa học tiến bộ, lòai người đã giải thích được các hiện tượng trong thiên nhiên như mưa bão sấm chớp…, thì những sự mê tín dị đoan cũng không còn lý do tồn tại.

Trái lại, những tôn giáo độc thần, đặc biệt là Kitô giáo lại là các tôn giáo của con người văn minh: Càng có kiến thức cao, con người càng tin có Đấng Tạo Hóa là căn nguyên của mọi vật hiện hữu trong vũ trụ. Ngày nay, tuy con người đã đạt được trình độ văn minh kỹ thuật khá cao, thế mà đại đa số nhân loại, trong đó có các nhà bác học đều có niềm tin tôn giáo, chỉ có một thiểu số không tin mà thôi:

3) Theo Bách Khoa Tòan Thư Mở (Wikipedia) thì niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáo trên thế giới ngày nay, có tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý không lớn nhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Nói chung có khoảng 87 phần trăm dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáo nào đó; chỉ có khoảng 13 phần trăm là không tôn giáo.



                        Các tôn giáo trên thế giới hiện nay 2012

Tôn giáo
Số lượng tín đồ
      Vùng lãnh thổ chủ yếu
Kitô giáo (gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo và Anh giáo):
2,1 tỷ
Khắp thế giới, trừ một vài nơi ở: 
Đông PhiBắc Phibán đảo Ả Rập
Trung ÁĐông ÁĐông Nam Á.
1,5 tỷ
Trung ĐôngBắc PhiTrung Á
Nam Á,
 Tây PhiĐông PhiNam Á,
 Đông Nam Á,
 Albania, một phần lãnh thổNga
các tỉnh phía tây Trung Quốc.
900 triệu
400 triệu
Trung QuốcSingaporeMalaysia
 và cộng đồng người Hoa hải ngoại
394 triệu
365 triệu
Đông Á và Ấn Độ
300 triệu
Khắp thế giới trừ Châu Âu
150 triệu
Đông Á và cộng đồng người Hoa
 ở hải ngoại
100 triệu
30 triệu
23 triệu
14 triệu
9 triệu
Tín đồ phân bố rải rác nhiều n
trên thế giới
5 triệu
1,2 triệu

Ngoài ra, ngay các khoa học gia, những bộ óc thông minh nhất của nhân loại cũng chấp nhận có Thiên Chúa với một tỷ lệ rất lớn:
                   
Chúa luôn chọn cách đơn giản nhất.
 God always takes the simplest way.


www.tudiendanhngon.vn - Danh nhân - Albert Einstein

Albert Einstein

(14/3/1879 – 18/4/1955)

 4) A. EYMIEU đã công bố một bảng thống kê bất ngờ về Đức Tin của 432 nhà khoa học thuộc thế kỷ 19 như sau:

- 34 người không rõ lập trường tôn giáo,

- Còn lại 398 vị thì 15 dửng dưng với tôn giáo hay thuộc phái bất – khả – tri (Chủ trương không thể dùng trí khôn nhận biết có Thiên chúa hay không).

- 16 vị công khai vô thần,

- Còn 367 vị tin có Thiên Chúa cách rõ rệt chiếm tỷ lệ 92%.

Hơn nữa, những vị có tín ngưỡng lại là những nhà bác học thời danh như: Ampère, Pasteur, Volta, Copernic, Newton, Edison, Galilê, Lavoisier, Marconi...

5) Mới đây trên trang web điện từ Vnexpress.net có đăng bài của T. An viết dựa theo tài liệu “Live Science” về niềm tin của các nhà khoa học hiện đại cho thấy đại đa số các nha khoa học đều tin có Thiên Chúa như sau:

- “Khoảng 2/3 các nhà nghiên cứu tin vào Đấng Tối Cao”. Một cuộc khảo sát mới đây cho thấy sự khác biệt sâu sắc giữa họ phụ thuộc vào lĩnh vực mà họ đang theo đuổi: Những người làm trong ngành “khoa học xã hội” có xu hướng tin vào Chúa và tham dự các hoạt động tôn giáo nhiều hơn so với các học giả trong lĩnh vực “khoa học tự nhiên”.

- Chỉ có gần 38% các nhà khoa học tự nhiên (những người liên quan đến bộ môn vật lý, hoá học và sinh học) và 31% những người nghiên cứu xã hội cho biết họ không tin vào Thiên Chúa.

- Trong cuộc khảo sát, nhà xã hội học ELAINE HOWARD ECKLUND từ Đại học Rice đã tìm hiểu 1.646 thành viên tại các trường đại học chuyên nghiên cứu, đưa ra 36 câu hỏi về niềm tin và các hoạt động tinh thần. Ecklund nói: "Dựa trên các nghiên cứu trước đây, chúng tôi tưởng rằng các nhà khoa học xã hội sẽ ít thực hành tôn giáo hơn các nhà khoa học tự nhiên, nhưng dữ liệu thu được lại cho kết quả ngược lại", Một số kết quả nổi bật như sau: 41% các nhà sinh học không tin có Chúa, trong khi con số này chỉ là 27% ở các nhà khoa học chính trị. Trong một công trình độc lập tại Đại học Chicago, công bố tháng 6 vừa qua, 76% các bác sĩ nói họ tin vào Chúa, và 59% tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia. Ecklund nói: "Giờ đây chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc của những khác biệt này… Nhiều nhà khoa học xem mình là người duy tâm lại không gắn với một tôn giáo cụ thể nào cả và không tin vào Thiên Chúa". Hiện nay Ecklund và cộng sự viên đang tiếp tục thực hiện những cuộc điều tra dài hơi hơn để tìm hiểu nguyên nhân của điều này.

KẾT LUẬN: Vậy có thể nói ngược lại rằng:

Hầu hết nhân loại thuộc đủ mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi nền văn minh đều tin có Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, dựa vào một nguyên lý căn bản là nguyên lý nhân quả: “Có hậu quả tất phải có nguyên nhân”. Tuy nhiên Đấng Tạo Hóa đã được quan niệm một cách khác nhau tùy theo trình độ văn minh cao thấp. Ngày xưa, vì dốt nát, nên người ta đã quan niệm sai lạc về Thiên Chúa, nhưng dần dần với kiến thức mở mang, những ý niệm đa thần đã được thay thế bằng một vị Thiên Chúa là căn nguyên của mọi hiện tượng trong vũ trụ. Chỉ có một thiểu số do tự cao, hoặc chịu ảnh hưởng của nền giáo dục vô tôn giáo... mới phủ nhận Ngài mà thôi.

Một nhà nhân chủng học trứ danh của thời đại chúng ta đã viết trong cuốn “loài người” của ông như sau: “Tôi chỉ gặp thấy tình trạng vô thần ở cá nhân, và chỉ là trường hợp đặc biệt. Khắp mọi nơi, luôn luôn đại đa số đều tin tưởng. Không một chủng tộc nào trong các đại chủng mà vô thần. Và cũng không có một nhóm nào quan trọng một chút trong các chủng tộc nhân loại mà vô thần”.

THẢO LUẬN: Phải chăng chỉ một thiếu số người tin vào Thiên Chúa và gia nhập vào một tôn giáo, trong khi đại đa số nhân loại đều vô thần ?

B. PHÚT HỒI TÂM:

1) LỜI CHÚA: Thánh Phao-lô viết: “Từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người. Do đó họ không thẻ tự bào chữa được. Vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ” (Rm 1,20-23).

2) LỜI CẦU:

Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, chúng con xin tạ ơn Cha vì Cha đã dựng nên muôn loài muôn vật để chúng con hưởng dùng, Cha đã dựng nên vũ trụ thiên nhiên để chúng con có nhà để sống, có nơi để làm việc, có cảnh đẹp để chiêm ngưỡng… Xin cho chúng con mổi khi nhìn vào vũ trụ thiên nhiên biết nhận ra bàn tay Cha đã tác tạo nên chúng, tin vào tình thương của Cha, tạ ơn Cha và phó thác cuộc sống hiện tại và tương lai trong sự quan phòng của Cha. Chúng con cầu xin Cha nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

 LM ĐAN VINH - HHTM


Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Khoa học chứng tỏ có Thiên Chúa và Năm phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa


Khoa học chứng tỏ có Thiên Chúa
và 
Năm phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa


Khoa học chứng tỏ có Thiên Chúa
       Vấn đề liên quan đức tin và khoa học là vấn đề “nóng” của mọi thời, nhất là trong thời đại khoa học ngày nay. 
        Đối thoại với một khoa học gia tên lửa và một phi hành gia, tiến sĩ Leslie Wickman còn hơn là một khoa học gia. Bà chứng tỏ rằng khoa học đã phát hiện Thiên Chúa, đồng thời giải thích cách thức mà đức tin và khoa học đồng hiện hữu.
         Bà xác nhận rằng khoa học hiện đại cho thấy có một “bức tranh lớn” khởi đầu với vũ trụ bao la của chúng ta.

        Đây là các tranh luận về vấn đề khoa học và Thiên Chúa. 
        - Có cuộc tranh luận về vũ trụ học cho rằngcó nguyên nhân và hệ quả, như vậy phải có người tạo nên – tức là Tạo Hóa. 
        - Cuộc tranh luận về bản thể học cho rằng có tư tưởng trong chúng ta, như vậy Thiên Chúa là nguyên nhân
        - Cuộc tranh luận về nhân chủng học cho rằng các giá trị luân lý tuyệt đối vì người ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, như vậy Ngài hiện hữu
         - Cuộc tranh luận về thuyết mục đích quan tâm trật tự và kế hoạch, như vậy phải có người Tạo Hóa.

VỤ BIG BANG – TS Wickman nói: “Khi tôi nhìn vào những gì khoa học cho chúng ta biết về sự hiện hữu của Thiên Chúa, điều tôi tìm kiếm là chứng cớ chúng ta có và cho biết rằng chính Thiên Chúa là lời giải thích đúng nhất. 
         - Đã có các chứng cớ tích lũy về cách thức big bang của vũ trụ – chúng ta gọi là Vụ Nổ Lớn. Điều đó cho biết rằng đã có một sự khởi đầu. Từ điểm khởi đầu này, không gian, vật chất và thời gian đã xuất hiện. 
         - Sáng Thế cho biết rằng Thiên Chúa đã tạo nên trời và đất, vụ big bang cho chúng ta biết chắc rằng đã có sự khởi đầu. Những người có niềm tin có thể cúi đầu khép nép vì điều đó căn cứ vào tự nhiên, nhưng thực tế là vụ big bang chính là Thiên Chúa”.

MỘT SỰ KHỞI ĐẦU – Thiên văn học chứng tỏ rằng vũ trụ bao la được đan kết rất tài tình, và cho chúng ta thấy rằng có một người tạo dựng rất hợp lý. Trước vụ big bang đã có tình trạng ổn định để “giữ” cho vũ trụ luôn hiện hữu. 
        - Nhiều khoa học gia và triết gia rất thoải mái về điều này vì không cần cách giải thích nào khác. Khi có nhiều chứng cớ về vụ big bang, nhiều người cảm thấy không thoải mái về cách chúng ta phải xử lý về sự khởi đầu này. 
        - Rõ ràng là nếu đã có một sự khởi đầu thì phải có một người bắt đầu hoặc nguyên nhân tạo nên.

QUY LUẬT GOLDILOCKS – Khoa học gọi là “Vùng Goldilocks” (*). Hãy nhìn trái đất. Nhiệt độ, nước, đất mênh mông, và cách chúng phụ thuộc lẫn nhau. Các đặc tính hài hòa của trái đất, phức tạp như chính nó, làm cho hành tinh này có thể cư ngụ, đó là cách giải thích về sự sáng tạo. 
         - Quy luật Goldilocks cho rằng phải có cái gì đó trong những “khe” nhỏ hẹp thay vì cực độ. Khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, kích cỡ của nó, tầng khí quyển, vùng từ tính, xoay quanh 24 giờ, và trục nghiêng của trái đất cho chúng ta có bốn mùa tuyệt vời. 
         - Đó chỉ là điển hình nhỏ, nhưng còn có hàng chục thông số khác cần xảy ra để trái đất đúng trật tự cho chúng ta sống.

TRẬT TỰ – Để có trái đất hài hòa như vậy thì phải có Tạo Hóa. Một số người cố gắng tính toán tính khả dĩ của việc làm cho trái đất hài hòa, nhưng đó là chuyện không thể. 
        - Chẳng khác gì muốn trích ra một nguyên tử từ vô số vũ trụ khác, và các nhà thống kê có thể nói rằng “đó là điều hoàn toàn bất khả thi”. 
         - Nghĩa là trái đất đã được Tạo Hóa thiết kế đặc biệt cho sự sống. Thật vậy, vũ trụ được thiết lập trật tự theo quy luật vật lý phù hợp mà chúng ta có thể nghiên cứu và hiểu được.

SỰ SỐNG Ở NƠI KHÁC – TS Wickman nói: “Tôi không biết có sự sống ở các hành tinh khác hay không. Nhưng tôi hơi ngạc nhiên là chúng ta có phải là loài thông minh duy nhất được Thiên Chúa tạo nên hay không. Có thể là kiêu ngạo khi chúng ta nghĩ mình là loài thông minh duy nhất”. Vũ trụ rất bao la, một vũ trụ đa dạng khác có thể còn lớn hơn, nhưng tôi không bị đe dọa với ý tưởng về vũ trụ đa dạng. Luôn có một thời kỳ điều chỉnh mà đức tin phải trải qua, mỗi khi khoa học có một phát hiện mới. Hàng trăm năm trước, các triết gia tự nhiên cũng đã tin rằng trái đất nằm ở tâm điểm của mọi thứ. Tư tưởng về những thứ không biết khiến người ta... sợ lắm!

        - Khoa học không là mối đe dọa đối với đức tin, nhưng khoa học chứng tỏ có Thiên Chúa hiện hữu. Đó là điều TS Wickman chia sẻ, và bà tái xác nhận rằng chúng ta tin vào Đấng Tạo Hóa vô cùng kỳ diệu – Thiên Chúa Ba Ngôi hằng sinh và hằng hữu.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
(*) Chuyện kể rằng, có cô bé tên là Goldilocks bị lạc trong rừng. Cô đi mãi và cuối cùng đến một ngôi nhà nhỏ của gia đình gấu gồm gấu bố, gấu mẹ và gấu con. Khi vào trong nhà, Goldilocks nhìn thấy ba chiếc ghế: chiếc thứ nhất quá cao, chiếc thứ hai quá rộng, chỉ có chiếc thứ ba vừa vặn. Cô ngồi lên chiếc ghế thứ ba. Cô bé lại nhìn thấy ba đĩa súp ở trên bàn: đĩa thứ nhất quá nóng, đĩa thứ hai quá nguội, đĩa thứ ba rất vừa. Cô bé ăn đĩa súp thứ ba. Cô bé đi lên thang gác và nhìn thấy ba chiếc giường: chiếc thứ nhất dài quá, chiếc thứ hai rộng quá, chỉ có chiếc thứ ba vừa vặn. Cô bé leo lên chiếc giường thứ ba và ngủ ngon lành.

Năm phép lạ chứng tỏ có Thiên Chúa

Hằng ngày, phép lạ vẫn không ngừng xảy ra xung quanh chúng ta. Thế giới chúng ta đang sống đầy các phép lạ của Thiên Chúa. Nếu bạn suy nghĩ về công cuộc sáng tạo của Ngài, bạn sẽ vô cùng kinh ngạc.

1. SỰ SỐNG HUYỀN NHIỆM

Mỗi ngày xảy ra hàng ngàn lần, đó là khi một “mầm sống con người” được tạo ra, và sau 9 tháng 10 ngày, mầm sống này là một con người ra đòi. Phép lạ sự sống không là một hoạt động bình thường, mà là một hoạt động chứa đầy chứng cớ về thiết kế của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thiết kế hoàn hảo của một con người theo điều kiện hợp lý tạo nên một trứng thụ tinh, bắt đầu hình thành một bộ nhiễm sắc thể và hệ gen riêng, không ai giống ai. Và như vậy, hơi thở đầu tiên của một thai nhi bắt đầu một linh hồn mới, một sự sống mới và một mục đích mới. Đó là một phép lạ thực sự kỳ diệu của Thiên Chúa.

2. TRÁI ĐẤT KỲ LẠ

Kích cỡ của trái đất rất hoàn hảo, chính xác tới mức nếu bất cứ thứ gì hơi khác một chút thôi, nó có thể làm hư hại, thậm chí là làm cho trái đất không còn tồn tại. Rất chính xác, tầng nitrogen và oxygen rộng 50 dặm (khoảng 80,5 km) trên mặt trái đất, nếu nhỏ hơn thì sẽ không có tầng khí quyển. Rất chính xác, nếu mặt trời gần hơn thì trái đất sẽ bị thiêu rụi, nếu xa hơn thì trái đất sẽ lạnh cóng. 
        - Vị trí trái đất chỉ lệch đi một chút thì mặt trời sẽ làm cho trái đất không có bất cứ sự sống nào. 
        - Mặt trăng cũng giữ vai trò quan trọng đối với sự hiện hữu của chúng ta, vì nó chịu trách nhiệm về thủy triều và giử ổn định quá trình xoay của trái đất. Và hiện tượng trọng lực cũng vậy... 
        - Đó là điều mà khoa học không thể giải thích. Trái đất thực sự là điều bí ẩn, là phép lạ của Thiên Chúa.

3. CHUỖI FIBONACCI

Chúng ta có thể nhân biết Thiên Chúa qua toán học và khoa học, cái mà người ta gọi là “Chuỗi Fibonacci” (Fibonacci Squence), thường được gọi là “Dấu Tay của Chúa” (God's Fingerprint). 
        - Sự kỳ diệu toán học này chứng tỏ rằng có Tỷ Lệ Thức Thiên Chúa (Divine Proportion) biểu lộ trong thiên hình vạn trạng, những con số và những kiểu mẫu, ở các vật sống động và không sống động. Người ta phát hiện chuỗi số tạo nên một kiểu rất thú vị. Chuỗi này bắt đầu với các con số 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, và tiếp tục tới vô cực. 
        - Mỗi con số tìm được thêm vào hai chữ số khác. Một hình chữ nhật có chiều rộng và chiều dài của bất kỳ hai số của chuỗi này, tạo nên một “hình chữ nhật hoàn hảo”. Khi “hình chữ nhật hoàn hảo” này biến thành các hình vuông dựa vào Chuỗi Fibonacci và được phân chia bằng một cung, chúng ta sẽ thấy một hình xoắn ốc. Đó là sự quan trọng được tìm thấy. 
       - Chẳng hạn, hoa hướng dương, vỏ sò, sóng biển, nụ hoa, cánh hoa, quả dứa (trái thơm), sao biển,… đều được hình thành bằng thiết kế chính xác này. Mẫu điển hình của loại này được đặt ngay trên đầu chúng ta... ngay cả hình xoắn của Giải Ngân Hà cũng được định hình bằng chuỗi thiết kế chính xác này.     
        - Nó cho chúng ta biết rằng tác phẩm của Thiên Chúa có ở khắp nơi trong vũ trụ này. Đó là các phép lạ của Thiên Chúa.

4. CƠ THỂ CON NGƯỜI

Chúng ta biết rằng cơ thể của chúng ta chứa 70% nước, nhưng đó chỉ là một trong nhiều yếu tố kỳ diệu về cơ thể con người. 
         - Thần kinh chuyển động nhanh tới 170 dặm/giờ (khoảng 273,6 km), bạn có bất ngờ không? 
          - Khứu giác của chúng ta còn ngửi thấy mùi với vận tốc nhanh hơn như thế. Nó chịu trách nhiệm điều chỉnh nhiệt độ không khí khi chúng ta hít thở, giữ cho cơ thể chúng ta có nhiệt độ hợp lý để có thể sống. 
          - Chúng ta thay đổi và phát triển các tế bào da cứ 27 ngày một lần – nghĩa là hơn 1.000 lớp da trong suốt đời người. Lạ chưa? 
          - Chúng ta là một bộ máy được điều chỉnh toàn phần tùy vào chức năng theo một trạng thái hài hòa hoàn hảo. Cơ thể con người là một kiệt tác kỳ diệu, một mê cung hoàn hảo, chỉ có bậc siêu quần “cõi trên” mới có thể phân chia tuyệt vời như vậy. Cơ thể chúng ta là phép lạ của Thiên Chúa.

5. VŨ TRỤ BAO LA

Vũ trụ bao la có nhiều bí ẩn mà con người chẳng bao giờ tìm hiểu hết. Nó rất rộng, rộng tới vô cực, trong đó có thế giới mà chúng ta chỉ có mơ mà thôi. 
       - Có hàng tỷ tỷ ngôi sao trên bầu trời. Giải Ngân Hà này được tạo ra bởi Giải Ngân Hà khác. Bạn có tin rằng mặt trời lớn tới mức chứa được 1 triệu trái đất? Trong một mặt trời có nhiều thế giới khác. Thật là kỳ diệu! 
        - Nếu bạn tìm chứng cớ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, không cần tìm đâu xa, cứ nhìn vào bầu trời ngay trên đầu bạn. Ai đã đi máy bay thì sẽ nhận ra Thiên Chúa.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)




Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Thượng Đế và Khoa học

Thượng Đế và Khoa học

Trong lớp học, vị Giáo-sư lên giọng:
"Hãy để tôi giải-thích vấn-đề của khoa-học đối với tôn-giáo,"
 Và ông yêu-cầu một học-sinh đứng lên.
-  Em theo đạo Chúa?
-  Thưa Thầy, vâng.
-  Em tin vào Thượng-đế?
- Tất-nhiên.
-  Thượng-đế có tốt không?
-- Chắc-chắn là tốt.
-  Có phải là Ngài Toàn-năng? Có thể làm được mọi việc?
-- Thưa vâng.
-  Em là tốt hay xấu ?
-- Kinh-thánh bảo là kẻ xấu.
Vị giáo-sư cố ý cười, suy-nghĩ chốc lát và bảo:  "À ha! Kinh-thánh. Giả-sử ở đây có người bệnh và em có thể chữa lành. Em có khả-năng. Em có giúp anh ta? Em có thử không?
-- Thưa Thầy, em sẽ thử.
-  Vậy em là người tốt.
--  Em không có ý nói thế.
-  Tại sao lại không nói như thế?
-- Nếu có thể, em sẽ giúp một người bệnh, tàn-tật.
-  Hầu hết chúng ta sẽ làm nếu có thể, nhưng Thượng-đế thì không! Cậu học-trò không trả-lời, và vị giáo-sư tiếp-tục,  "Em trai tôi là tín-đồ đạo Chúa đã chết vì ung-thư mặc dầu đã từng cầu nguyện xin Chúa Jesus cứu chữa... Sao mà cho Chúa Jesus tốt được? Em có thể trả-lời được không?
Cậu học-trò vẫn im-lặng...
Vị giáo-sư nói:  "Em không thể trả-lời phải không?"
Ông cầm lấy ly trên bàn nhấp môt ngụm nước tạo thời-gian cho cậu học-sinh bớt căng thẳng.
-  "Chúng ta bắt đầu trở lại. Thượng-đế có tốt hay không?"
-- Dạ ... tốt !
-  Quỷ Satan có tốt không?
         Cậu học-trò không ngại-ngần:  "Không".
-  Vậy Satan đến từ đâu?
-  Cậu học-trò ngập-ngừng:  "từ Thượng-đế"
-  Đúng thế. Thượng-đế tạo Satan. Em cho tôi biết có kẻ xấu ác trên thế-giới này không?
-- Dạ có .
-  Kẻ xấu ác có khắp nơi, và Thượng-đế tạo mọi thứ, có đúng không?
--  Dạ đúng.
Vị giáo-sư tiếp-tục:  “ Vậy ai tạo ra kẻ xấu ác?  Nếu Thượng-đế tạo ra mọi vật, thì Ngài tạo ra kẻ xấu ác. Do bởi xấu ác hiện-hữu, và theo nguyên-lý  "hành-động định-danh con người",  vậy Thượng-đế là kẻ xấu ác.
Cậu học-trò lại không trả-lời.
 - Có phải bệnh-tật, vô đạo-đức, hận-thù và xấu xa hiện-hữu trên cõi đời này?
Cậu học-trò đứng im lúng-túng:  "Thưa vâng".
 -  Vậy thì ai tạo ra chúng?
Cậu học-trò lại không trả-lời để vị giáo-sư lập lại câu-hỏi: "Ai tạo ra chúng?"
Vẫn không có câu trả-lời. Đột-nhiên vị thầy bước đến trước lớp học. Cả lớp như bị mê-hoặc.  Ông tiếp tục hỏi một học-sinh khác:  "Hãy nói cho tôi nghe!
-  Em có tin vào đức Chúa không?
--- Vâng, thưa Thầy, em tin.
Vị giáo-sư ngừng bước:  “Khoa-học bảo em có ngũ-giác-quan dùng để xác-định và quan-sát thế-giới xung quanh.  Em đã thấy Chúa Jesus bao-giờ chưa?”
---  Thưa Thầy, em chưa bao giờ thấy Ngài.
-   Có bao-giờ em cảm-nhận được Chúa của em, nếm Chúa của em hay ngửi thấy Chúa của em?  Có bao giờ em có những cảm-giác nhận biết đức Chúa hay Thượng-đế?
--- Thưa Thầy, đáng tiếc là em không có.
-   Em vẫn còn tin Chúa?
--- Thưa vâng.
-  Theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được, khoa-học bảo Thượng-đế không hiện-hữu... Em nói như thế nào vể điều đó ?
---  Không. Em chỉ có đức tin của em.
-   Vâng. Đức tin. Và đó chính là vấn-đề khoa-học đã có đối với Thượng-đế. Không có bằng-chứng, chỉ có đức tin.
Cậu học-trò đứng lặng lẽ một lúc, trước khi hỏi:  "Thưa Thầy, có cái gì là nhiệt không ?"
-  Có.
---  Và có cái gì là lạnh không ?
-  Vâng, có cả lạnh nữa em à .
--- Thưa Thầy, không phải vậy.
Vị giáo-sư quay nhìn vào mặt cậu học trò tỏ vẻ thú vị. Cả lớp đột nhiên im lặng như tờ.  Cậu học-trò bắt đầu giải-thích:
--- Thầy có thể có rất nhiều nhiệt, thậm chí thêm nhiều nhiệt, siêu-nhiệt, vô-hạn-nhiệt, nhiệt trắng, một chút nhiệt hay không nhiệt, nhưng chúng ta không có cái gì gọi là "lạnh".
Ta có thể đạt xuống  458 độ dưới zero mà không có nhiệt, nhưng ta không thể xuống hơn thế nữa. Không có gì là "lạnh" hết; nếu không ta có thể đạt mức lạnh hơn độ thấp nhất là  -458 độ.  Mọi thể-vật có thể nghiên-cứu được khi chúng có hay truyền được năng-lượng. Ở độ zero tuyệt-đối (-458 F) hoàn-toàn vắng bóng nhiệt. Thưa Thầy, Thầy có thấy "lạnh" chỉ là chữ ta dùng để diễn tả sự  "vắng bóng nhiệt". Ta không thể đo-lường "lạnh". Ta có thể đo lường nhiệt theo những đơn-vị nhiệt, vì nhiệt là năng-lượng. "Lạnh" không phải là đối nghịch của nhiệt. Thưa Thầy, đó chỉ là vắng bóng nhiệt.
          Cả lớp lặng im. Có cây bút rơi đâu đó, nghe như tiếng búa rơi.
--  Thưa Thầy, còn "bóng tối"?  Có cái gì là bóng tối không?
         Vị giáo-sư đáp lại không do dự:
-   Có. Đêm là gì nếu đó không là bóng tối?---  Thầy lại sai lầm. Bóng tối không là một cái gì cả; chỉ là sự vắng mặt một cái gì đó. Thầy có thể có ánh-sáng yếu, bình-thường, ánh-sáng mạnh, ánh sáng nháy, nhưng nếu ánh sáng không liên-tục, Thầy chẳng có gì hết và phải chăng đó được gọi là bóng tối? Và nếu thế, Thầy có thể làm bóng tối tối hơn, Thầy có thể làm được vậy hay không?
        Vị giáo-sư bắt đầu nở nụ cười với cậu học trò trước mặt. Đây hẳn sẽ là một học kỳ tốt đẹp:
-  Người bạn trẻ, em muốn nói đến điều gì?
--- Thưa Thầy. Điều em muốn nói là tiền-đề triết-học Thầy khởi xuất là sai lầm, và kết-luận của Thầy cũng thiếu sót.
         Lần này, nét mặt của vị giáo-sư không che giấu được sự ngạc-nhiên:
-  Sai lầm?  Em có thể giải-thích được không?
          Câu học-trò giải thích:  “Thầy đang tạo một tiền-đề có hai mặt. Thầy tranh luận rằng có sự sống và rồi có sự chết; một Thượng-đế tốt và môt Thượng-đế xấu. Thầy đang có khái-niệm về Thượng-đế như là một gì hữu hạn, là một gì ta có thể đo đạc. Thưa Thầy, thậm chí khoa học không thể giải-thích một ý-nghĩ. Dùng điện và từ, nhưng chưa bao giờ thấy, không hoàn toàn hiểu được đầy đủ. Xem cái chết như là đối nghịch với sống là không hiểu gì hết, thực ra cái chết không thể hiện-hữu như một tồn-tại độc lập. Chết không đối nghịch với sống, chỉ là vắng bóng sự sống.  Bây giờ Thầy cho em biết có phải Thầy dạy học trò rằng, “chúng tiến-hóa từ khỉ?”
-  Người bạn trẻ ơi, nếu em đề cập đến quá-trình tiến-hóa thiên-nhiên, vâng, tất-nhiên tôi đã dạy như thế.
-- Có bao giờ Thầy dùng đôi mắt quan-sát sự tiến-hóa?
          Vị giáo-sư bắt đầu lắc đầu, vẫn cười mỉm như nhận ra cuộc tranh-luận sẽ như thế nào. Thật là một học kỳ tốt đẹp.
--- Do bởi không một ai quan-sát được quá-trình tiến-hóa và lại càng không minh-chứng được nó đang tiếp-diễn, sao Thầy không dạy những quan-điểm của Thầy? Phải chăng giờ đây Thầy chẳng là một khoa-học gia, mà là một người thuyết-giáo?
         Cả lớp học náo động. Người học trò vẫn im-lặng cho đến khi sự ồn ào lắng xuống.
--- Để tiếp nối vấn-đề Thầy đã đặt ra cho bạn kia, em xin đưa một thí-dụ để rõ ý của em.  Người học trò nhìn quanh lớp: “Có ai trong các bạn đã từng nhìn thấy bộ não của Thầy?”
         Cả lớp bật vang tiếng cười.
--  Có ai trong các bạn đã từng nghe bộ não của Thầy? cảm nhận bộ não của Thầy, rờ mó và ngửi bộ não của Thầy? Chẳng thấy có ai làm vậy cả. Vậy thì, theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được, khoa-học bảo Thầy không có bộ não, thưa Thầy, em vẫn với một lòng tôn kính. Vậy thì, nếu khoa-học bảo Thầy không có bộ não, làm sao chúng em có thể tin vào các bài giảng của Thầy?
            Giờ thì cả lớp lặng yên. Vị giáo-sư chỉ nhìn chăm chăm học trò, khuôn mặt khó hiểu. Cuối cùng, tưởng chừng như vô-tận, vị Thầy già trả lời:
-  Tôi đoán em sẽ phải đưa họ về với đức tin.
          Cậu học-trò tiếp-tục: “Bây giờ Thầy chấp nhận rằng có đức tin, và trên thực tế, đức-tin hiện-hữu với đời sống. Bây giờ, có cái gì là xấu ác không Thầy?”
-  Tất nhiên có. Chúng ta thấy hàng ngày. Những thí dụ vô-nhân của người đối với đồng loại; vô số tội ác và bạo-lực xảy ra khắp nơi trên thế-giới.  Những điều này biểu-hiện không gì khác hơn là điều xấu ác.
         Cậu học-trò trả-lời:  “Thưa Thầy, sự ác không hiện-hữu, hoặc ít nhất nó cũng không tự nó hiện-hữu. Đơn-giản, sự ác là vắng bóng Thượng-đế. Cũng giống như bóng tối và lạnh, chỉ là ngôn từ con người đặt ra để diễn giải sự vắng mặt của Thượng-đế. Thượng-đế không tạo ra sự ác. Sự ác chỉ là kết quả những gì khi con người không có tình-yêu của Thượng-đế trong con tim của họ. Giống như "lạnh" đến khi không có nhiệt hay bóng tối đến khi không có ánh sáng.”
         Vị giáo-sư ngồi xuống.
         Cậu học-trò thứ hai đối đáp với vị giáo sư chính là  Albert Einstein

                                                                                                                            sưu tầm

 

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Ai theo Chúa sẽ được ánh sáng ban sự sống” Ga 8,12


 Lòng yêu mến, niềm khao khát  khi theo Chúa


Trong một thị kiến Chúa tỏ cho ông Gioan : “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” (Kh 3,20). Ai sẵn sàng mở cửa lòng đón Ngài phải là người có tâm hồn khao khát chân lý, như ngôn sứ Isaia thốt lên : “Hồn chúng con khát vọng Thánh Danh và ước mong tưởng nhớ đến Ngài. Suốt đêm trường, hồn con khao khát Chúa, trong thâm tâm, những kiếm tìm khắc khoải.Khi Chúa thực thi quyết định của mình khắp năm châu, người bốn bể học biết đường công chính. Lạy Đức Chúa, Ngài cho chúng con được an cư lạc nghiệp, vì hết mọi việc chúng con làm đều do Ngài thực hiện cho chúng con.” (Is 26,8b-9.12).

          Vì thế triết gia Kierkegaard nói : “Mọi vấn đề ăn thua với cuộc sống hệ tại lòng yêu mến, tìm hiểu về vấn đề gì mà không yêu mến, thì không biết gì cả!”

          Thánh Tôma Tiến sĩ nói : “Người trí thức có ba việc phải làm là học điều mình tin, hiểu điều  mình yêu và mến việc mình làm”.
          Thánh Augustin nói : “Ở đâu có tình yêu, ở đấy hết khó nhọc, giả như có khó nhọc lại yêu chính sự khó nhọc đó”.
          Thánh Gioan Maria Vianey nói : “Thế giới sẽ thuộc về tay ai biết yêu mến”.
          Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Mọi sự sẽ qua đi,chỉ có Đức Mến tồn tại muôn đời” (1Cr 13,13).
          Cuộc đời phục vụ của Đức Giêsu luôn bị thúc đẩy bởi lòng mến, lòng mến ấy đã bộc lộ qua hai lần Ngài nói : “Tôi khát” :

1.                    Bắt đầu cuộc đời lên đường đi rao giảng Lời khắp nơi, Ngài ngồi bên bờ giếng Giacob nói với người phụ nữ miền Samari: “Tôi khát, chị có nước cho tôi uống ?” Rồi Ngài giải thích cho chị : “Ai uống nước giếng này còn phải khát, nước của tôi ban ai uống không bao giờ còn phải khát” (x Ga 4).
2.                    Khi lập Bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu nói : “Thầy những khao khát ăn lễ Vượt Qua này với chúng con” (Lc 22,15-16)
3.                    Cuối đời phục vụ, khi bị treo trên thập giá,Ngài lại thốt lên : “Tôi khát” (Ga 19,28).
Như thế suốt đời phục vụ của Đức Giêsu lúc nào Ngài cũng “khát”. Có người đến dự tiệc ThánhThể để được đồng hóa với Ngài, đó là người “khôn Ngoan đã được chứng minh bằng hành động” (x Mt 11,19b : Tin Mừng). Ai yêu mến đến với Đức Giêsu, thì phải học hỏi Lời của Ngài, đó là “khởi điểm đích thực của Đức Khôn Ngoan” (Kn 6,17). Và cũng bởi nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, mà Ngài lại cho chúng ta biết đói khát Chân Lý, như Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Amos nói : “Ta sẽ gieo đói khát trên xứ này, không phải vì đói bánh ăn, cũng không phải vì khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8,11).

Ai khát Chúa, “hãy ra nghênh đón Người, chính Người là Hoàng Tử bình an” (Tung Hô Tin Mừng). Và “ai theo Chúa sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12 


THUỘC LÒNG

·                                 Khởi điểm đích thực nhất của Đức Khôn Ngoan là thực lòng ham muốn học hỏi (Kn 6,17).

          -   Ai không đếm xỉa đến việc nhận biết Thiên Chúa, Thiên Chúa để cho trí não ngông cuồng của nó làm điều bất xứng (Rm 1,28).

Trích theo:

Lm GIUSE ĐINH QUANG THỊNH 

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG


Trên đời có nhiều thứ ánh sáng: ánh sáng vật lý, ánh sáng văn hoá, ánh sáng khoa học, ánh sáng tâm linh.  Để nhìn ra ánh sáng, cần có một khả năng nào đó.  Để thấy ánh sáng vật lý, chỉ cần có đôi mắt bình thường.  Nhưng để nhìn thấy ánh sáng khoa học, phải có một số vốn kiến thức cần thiết.  Để thấy ánh sáng văn hoá, cần được khai tâm mở trí.  Và để thấy được ánh sáng tâm linh, cần có các chứng nhân chiếu dọi.  Thánh Gioan Baotixita là chứng nhân của Đức Kitô ánh sáng.  Ngài làm chứng cho Đức Kitô bằng chính cuộc đời trong sáng của ngài.  Nhìn vào cuộc đời ngài, ta thấy toả ra các làn ánh sáng sau đây:

Làn ánh sáng thứ nhất mà ta thấy nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự khiêm nhường.  Ngài khước từ mọi vinh quang người ta phủ quanh ngài.  Ngài thành thực nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế toàn dân mong chờ, không phải là Êlia vĩ đại, cũng không phải là một tiên tri cao cả.  Ngài tự nhận mình chỉ là một "tiếng kêu trong sa mạc."  Ngài khiêm nhường nói rằng ngài không xứng đáng xách giày cho Đấng Cứu Thế.  Thật là khiêm nhường tự hạ.  Đức khiêm nhường ấy chiếu lên dung mạo ngài một làn ánh sáng.  Ánh sáng ấy khiến cho lời chứng của ngài càng có sức thuyết phục.  Ánh sáng ấy phản chiếu dung mạo đích thực của Đấng Cứu Thế, Đấng tuyệt đối khiêm nhường.

Làn ánh sáng thứ hai ta thấy nơi cuộc đời của thánh nhân là làn ánh sáng của sự khổ hạnh. Phần lớn đời ngài ẩn dật trong sa mạc.  Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh.  Ngoài sự khắc nghiệt của thời tiết, sự hoang vu cô tịch, sự đe dọa của thú dữ, thánh Gioan Baotixita còn tự nguyện sống khó nghèo, đơn sơ, đạm bạc.  Y phục của ngài chỉ là mảnh da thú quấn quanh thân thể. Thức ăn của ngài là châu chấu và mật ong rừng.  Sự khổ hạnh không chỉ lóe sáng lên một ý chí mạnh mẽ biết vượt thắng chính bản thân mình, mà còn chiếu ánh sáng hy vọng vào tương lai.  Người lệ thuộc vào vật chất là người bị trói buộc trong hiện tại.  Người khổ hạnh là người đặt niềm hy vọng ở tương lai.  Niềm hy vọng ấy chiếu sáng vào cuộc đời hiện tại vì làm cho cuộc sống có một ý nghĩa cao đẹp và sâu xa.  Tương lai tươi sáng mà thánh Gioan Baotixita chờ đón chính là Đức Giêsu Kitô mà ngài loan báo.

Làn ánh sáng thứ ba nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự trung thực.  Trung thực trong những lời nói về chính mình, nên ngài không dám nhận những vinh quang người đời tưởng lầm Ngài có.  Ngài chỉ nhận những sự thực rất khiêm nhường, rất bé nhỏ của mình.  Trung thực với lòng mình, nên ngài sống một cuộc sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối.  Trung thực trong những phán đoán về người khác, nên ngài đã thẳng thắn khuyên vua Hê-rô-đê không được phép lấy chị dâu.  Chính sự trung thực này đã phải trả giá bằng cái chết chẳng toàn thây.  Nhưng sự trung thực ấy đã làm sáng lên cuộc đời chứng nhân.  Làn ánh sáng ấy cho ta thoáng thấy ánh sáng đích thực của Đấng là Sự Thật, là chính Đức Giêsu Kitô.

Làn ánh sáng thứ tư nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự quên mình.  Biết mình chỉ là người đưa tin, thánh nhân luôn xoá mình đi, để cho Đấng là chính Tin Mừng được nổi bật.  Biết mình chỉ là người mở đường, thánh nhân luôn tự hạ để cho Đấng là Đường được mọi người nhận biết.  Làm chứng cho sự thật, thánh nhân đã tự nguyện hy sinh để cho Đấng là Sự Thật được trân trọng.  Khi mọi người tuốn đến với Ngài, Ngài đã không giữ lại cho mình, nhưng đã giới thiệu họ đến với Đức Giêsu, nên ngài nói: "Người đến sau tôi, nhưng tôi không đáng cởi dây giầy cho Người" (Ga 1, 27).  Nhiều môn đệ đã theo Ngài, nhưng Ngài giới thiệu để họ theo làm môn đệ Đức Giêsu. Khi thấy đám đông đã bỏ ngài để đi theo Đức Giêsu, ngài hài lòng vì thấy nhiệm vụ đã hoàn tất, nên ngài nói: "Chúa phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi" (Ga 3, 30).

Thánh Gioan Baotixita thật là một chứng nhân tuyệt hảo.  Ngài đã biết tự hạ mình xuống để Chúa được nổi bật lên.  Ngài đã biết ẩn mình trong bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng.  Ngài đã biết tự hủy mình đi để Chúa được nhận biết.  Ngài đúng là người đi mở đường cho Chúa.  Ngài thực là chứng nhân của ánh sáng.

Mùa Vọng này, mọi người đang chờ đón Chúa đến.  Chúa muốn tôi hãy đi mở đường cho Chúa. Chúa muốn tôi làm chứng cho Chúa.  Chúa muốn tôi giới thiệu Chúa cho anh em.  Nhưng rất nhiều khi, thay vì mở đường cho Chúa, tôi chỉ lo mở đường cho tôi.  Rất nhiều khi thay vì làm chứng cho Chúa, tôi chỉ lo làm chứng cho tôi.  Rất nhiều khi thay vì giới thiệu Chúa, tôi chỉ giới thiệu bản thân mình.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi hãy soi mình vào tấm gương của thánh Gioan Baotixita để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến.

Xin thánh Gioan Baotixita giúp chúng con sống trong sáng để trở nên chứng nhân của ánh sáng.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt